Những bản nhạc jazz có lời bất hủ

ban-nhac-jazz-hay-nhat

Tôi có một người bạn, anh ấy thường xuyên dành thời gian mỗi ngày chỉ để nghe nhạc Jazz. Khi cảm thấy căng thẳng mệt mỏi, những bản nhạc Jazz nhẹ nhàng là liều thuốc tốt nhất với anh ta ngay lúc đó. Anh thậm chí còn sưu tầm những chiếc đĩa cổ về những bản nhạc Jazz đã từ rất lâu rồi, ngoài ra anh còn có thể ngồi hàng giờ thao thao giải thích cho tôi nghe về sự ra đời của nhạc jazz thế này, những bản nhạc bất hủ thế kia.

Chính vì vậy, bài hát đầu tiên mang tôi đến với nhạc jazz là bản nhạc “Fly me to the moon”- Frank Sinatra, cũng là bản nhạc đã đưa người bạn của tôi đến gần hơn với thể loại âm nhạc này.

“Fly me to the moon and

Let me play among the stars

Let me see what spring is like

On jupiter and mars

In other words, hold my hand

In other words, darlin, kiss me….”

Mặc dù sau này tôi đã được nghe phiên bản Fly to the moon của Evangelion cũng xuất sắc không hề kém Tuy vậy Fly me to the moon-Frank Sinatra vẫn là bản nhạc Jazz lần đầu tiên tôi được nghe và cho tới tận bây giờ vẫn còn cảm giác tươi mới, Đúng, chính là cái cảm giác đó, cảm giác của tôi, bạn và những người lần đầu tiên nghe bản nhạc này đều muốn được bay lên mặt trăng.

Cũng từ đó, tôi từ một người không nghe, không hiểu, không biết gì về nhạc Jazz, dần dần tiếp xúc và tiếp cận theo lẽ đó, không màu mè, không cầu kỳ, chỉ đơn giản là vậy. Theo dòng lịch sử của thời gian, tôi xin được tổng hợp lại những bản nhạc Jazz có lời bất hủ đi cùng năm tháng trong suốt 20 thập kỷ qua để mọi người có thể nắm bắt và có cơ hội thưởng thức những tác phẩm nổi tiếng này.

Nhắc tới những bản nhạc Jazz đi cùng năm tháng, chúng ta không thể không nhắc đến những nghệ sỹ mà tên tuổi của họ, chính những bài hát của họ, đã đưa dòng nhạc Jazz đến gần hơn với công chúng nói chung và âm nhạc nói riêng.

Nghệ sỹ tài năng Louis Armstrong (04/8/1901 – 06/7/1971) với “Hello, Dolly”

Bài hát đứng đầu bảng xếp hạng vào năm 1964, đã đánh bật tên tuổi The Beatles ra khỏi vị trí thứ 1 để giành vị trí đầu bảng.

Bên cạnh việc là một ca sĩ nhạc jazz tài năng, Louis Amstrong còn nổi tiếng về tài chơi trumpet. Với chất giọng khàn, trầm ấm đã đi vào lòng khán giả nghe nhạc. Armstrong được coi là cha đẻ của nhạc jazz hiện đại. Hình ảnh đặc trưng của Louis Armstrong là nụ cười rộng miệng bẩm sinh. Ông được nhớ đến với chất giọng khàn nội lực đặc trưng cùng lối hát tự nhiên, khéo léo và những phần ngẫu hứng trumpet trong các ca khúc của mình.

Ảnh hưởng của ông còn vượt ra khỏi thể loại jazz, tác động đến âm nhạc đại chúng nói chung. Ông là một trong những người Mỹ gốc Phi đầu tiên thực sự nổi tiếng vượt qua được trở ngại về “màu da” ở một nước phân biệt chủng tộc như nước Mỹ. Khả năng nghệ thuật đã giúp ông tiếp cận được với tầng lớp trên của xã hội, vốn bị hạn chế đối với những người da đen cùng thời.

Ai đã từng nghe Hello, Dolly-Có thể thấy đó là bản solo “độc nhất vô nhị” với chất giọng cứng rắn, khàn đục của một “ông già” ở tuổi 63 nhưng vẫn ở đó đặc trưng không thể nhầm lẫn của Satchmo.

Với Hello, Dolly! , đó là sự tự do và niềm vui mà Louis nhấn nhá qua từng câu hát “You’re lookin’ swell, Dolly. I can tell, Dolly” (Trông bạn thật đẹp, Dolly. Tôi chắc chắn đó, Dolly). Hay đó là cách mà ông tự “đóng dấu” trực tiếp tên mình qua việc thay đổi lời hát, từ “Hello Dolly. This is miss Dolly” (Xin chào Dolly. Đây là cô Dolly)  thành “Hello Dolly. This is Louis, Dolly”(Xin chào Dolly. Đây là Louis, Dolly) với âm “s” kéo dài có chủ đích. Còn với người đã nghe nhạc của Louis lâu năm, thì tinh hoa vẫn cứ là ở phần ngẫu hứng trumpet giữa 2 đoạn hát.

Và hẳn là, sự tưng tửng vui tươi cùng tiếng trumpet “thương hiệu” của Louis Armstrong là chất liệu quá hoàn hảo hóa giải sự “dễ đoán” ban đầu cho Hello, Dolly! 

Ella Fitzgerald (25/4/1917 – 15/6/1996) – Round Midnight

Trong giới mê Jazz, người ta rỉ tai nhau rằng ai chưa nghe Ella Fitzgerald hát thì coi như chưa biết tới nhạc Jazz. Âm sắc và kỹ thuật thanh nhạc của Fitzgerald vẫn chưa ai sánh kịp. Ella Fitzgerald được xem là một trong vài ca sĩ nhạc Jazz có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20, với âm vực rộng khoảng 3 quãng 8, giọng hát của bà rất chuẩn, cách phân câu tương tự như tiếng kèn và khả năng hát tự do đã làm bao người say mê. Cuộc đời nghệ thuật của bà kéo dài 50 năm, thắng 13 giải âm nhạc Grammy. Bà là nghệ sĩ âm nhạc duy nhất đoạt hai huy chương nghệ thuật quốc gia do TT Ronadl Reagan và TT George W. Bush trao tặng. Trên tất cả, bà được người hâm mộ trên toàn thế giới yêu mến gọi là “Đệ nhất phu nhân của những ca khúc”, “Nữ hoàng nhạc Jazz” và đơn giản, nhưng trang trọng hơn là “Quý bà Ella”.

Năm 1956, Ella phát hành đĩa hát đầu tiên trong bộ 8 đĩa hát những sáng tác của nhạc sĩ Jazz Cole Porter, thu âm từ năm 1956 đến 1964. Sau sự thành công rực rỡ với nhạc sĩ Cole Porter, Ella thu âm thêm các nhạc phẩm của nhạc sĩ tài danh Duke Ellington mang tên Round Midnight. Đây là bộ đĩa hay nhất và nổi tiếng nhất của Ella Fitzgerald.

Nat King Cole (17/3/1919 – 15/02/1965) với Smile và Unforgetable

Nat King Cole được mệnh danh là ông vua nhạc Jazz, giọng ca “bất tử’’ bởi chất giọng ngọt ngào êm ái như nhung làm say mê những người yêu nhạc pop của phương Tây vào thập niên 50 và đầu thập niên 60, tiếp tục vượt ra khỏi biên giới chính trị văn hoá của nước Mỹ để chinh phục biết bao con tim trên thế giới. Ông bắt đầu nổi tiếng vào năm 1943 như một ca sĩ nhạc jazz, ca khúc Straighten Up and Fly Right đã đưa tên tuổi của ông lần đầu tiên đến với công chúng nghe nhạc. Âm nhạc của ông bị ảnh hưởng bởi âm nhạc dân gian Mỹ – Phi và các thể loại ban đầu của rock and roll. Nat King Cole gặp nhiều trở ngại xuất phát từ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, nhưng ông đã vượt qua để được xem như những nghệ sĩ da trắng, như Frank Sinatra, Dean Martin.

Smile là bài hát chủ đề trong bộ phim câm cuối cùng “Modern Times” năm 1936 của vua hề Charlie Chaplin, do chính Charplin là tác giả của giai điệu. Smile nhắc chúng ta nhớ đến ý nghĩa của nụ cười trong cuộc sống của mỗi chúng ta, trong từng giây phút, thậm chí cả khi ta bị ngã quị trên đường đời, khi ta thấy buồn vì một vài điều bất ưng trong cuộc sống, gặp thất bại… Điều này nghe có vẻ hơi khó, nhưng chúng ta hãy cười, cười nhiều hơn, và tin rằng mọi nỗi buồn nếu có rồi sẽ qua và sau thất bại là thành công và niềm vui vẫn còn đó.

Unforgettable – Natalie Cole & Nat King Cole: Một bài hát được coi là đã đi vào huyền thoại với giọng hát của ông vua nhạc Jazz Nat King Cole và cô con gái của ông là Natalie Cole.

That’s why, darling, it’s incredible.

That someone so unforgettable.

Thinks that I am unforgettable too

Frank Sinatra (12/12/1915 – 14/5/1998) với My way, Fly to the moon

Frank Sinatra bắt đầu sự nghiệp trong thời đại nhạc swing, ông hát với ban nhạc của Tommy Dorsey. Suốt những năm 1940, ông nổi tiếng và bắt đầu tham gia vào các bộ phim âm nhạc. Những năm 1960, Sinatra là một thành viên của ban nhạc Rat Pack, chuyên biểu diễn trên sân khấu và xuất hiện trong các bộ phim. Vài thập kỷ tiếp theo, Sinatra tham gia biểu diễn rộng rãi và có những album bán chạy nhất.

Sau Fly to the moon, với My way, ca từ của bài My Way nói về câu chuyện của một người đã cận kề với sự ra đi, sẵn sàng cho cái chết. Hồi tưởng lại đời mình, ông ta không chút nuối tiếc về việc mình đã sống như thế nào, bởi cho đến cuối đời ông đã làm tất cả theo cách của mình.

Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau đó, mặc dù vẫn được nhiều thế hệ công chúng mê mẩn, các quán bar, sân khấu ca nhạc, chủ nhà hàng karaoke ở Philippines đã tìm mọi cách để chối từ và loại My Way ra khỏi list ca khúc của mình. Nguyên do là người ta cho rằng My Way chứa một lời nguyền không thể giải khi lần lượt nhiều trường hợp ở Philippines chết bất đắc kỳ tử sau khi trình diễn ca khúc này. Cụ thể, 6 người đã tử vong đột ngột do bị dính đạn trong các cuộc xung đột cá nhân, và tất cả họ đều đã từng say sưa hát My Way ở chỗ đông người. Các phương tiện truyền thông cũng vào hùa, gọi My Way là “Ca khúc giết người”.

Việc một bài hát có phần lời đơn giản, không quá huyền bí gây nên những thảm kịch khiến nhiều người hoang mang. Họ tự hỏi đây là một lời nguyền hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên?  Có giả thiết cho rằng nguyên nhân là vì lời ca khúc quá kiêu ngạo, đã gây nên cảm giác thách thức, từ đó nảy sinh sự tức tối của những người xung quanh, ngọn nguồn của những viên đạn kết liễu người trình diễn My Way.

Rất nhiều câu chuyện được thêu dệt xung quanh ca khúc nổi tiếng này. Tuy nhiên, những người tỉnh táo đều biết bạo lực lây lan trên toàn cầu do các nguyên nhân đến từ dịch vụ karaoke ngày càng gia tăng và câu chuyện “sáng tác” chung quanh My Way chỉ là thí dụ về sự phóng đại nhất thời đã lây lan nhanh chóng và gây hoang mang về một lời nguyền không có thật.

Nhạc Jazz cũng có những cái hay, cái đẹp. Chúng ta phải làm quen mới biết, thích và thấu hiểu được.

Tôi đã từng đọc ở đâu đó rằng: “Nhạc Jazz có tính công bằng lắm, nó đòi hỏi con người ta cống hiến luôn luôn hàng giờ, hàng phút. Khi chơi Jazz, không ai đệm cho ai cả. Ai cũng là solist, ai cũng có cơ hội tự thể hiện mình. Trước nhạc Jazz tất cả đều bình đẳng, đều đòi hỏi phải có trình độ rất cao. Tất cả các anh đều là nghệ sỹ cả, chứ không phải có anh nào đó sinh ra chỉ để đệm cho người khác. Trong các chương trình ca nhạc khác, ca sỹ là chính, tất cả các nhạc công là đệm. Ở đây các nghệ sỹ đều là chính.”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *